BỆNH VIRUS CORONA 2019 (Phần 2)

BỆNH VIRUS CORONA 2019 (Phần 2)

... tiếp theo phần 1

Quản lý

Tính đến ngày 5 tháng 2 năm 2020, chưa có phương pháp điều trị cụ thể đã biết nào. WHO khuyến nghị những tình nguyện viên tham gia vào Thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát để kiểm tra tính hiệu quả và an toàn của các phương pháp điều trị tiềm năng.

Nghiên cứu về các phương pháp điều trị tiềm năng cho căn bệnh này đã được bắt đầu vào tháng 1 năm 2020 và các liệu pháp mới có thể mất đến năm 2021 để phát triển hoàn tất. Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Trung Quốc đã bắt đầu thử nghiệm các phương pháp điều trị viêm phổi hiện có đối với coronavirus mới này vào cuối tháng 1. Cũng đã có kiểm tra về chất ức chế RNA polymerase hay chất chống virus như remdesivir, và interferon beta.

Vào cuối tháng 1 năm 2020, các nhà nghiên cứu y học Trung Quốc đã bày tỏ ý định bắt đầu thử nghiệm lâm sàng trên remdesivir, chloroquine và lopinavir/ritonavir, tất cả đều có "tác dụng ức chế khá tốt" trên SARS-CoV-2 ở cấp độ tế bào trong các nghiên cứu khám phá. Vào ngày 5 tháng 2 năm 2020, Trung Quốc bắt đầu sử dụng remdesivir cho các bệnh nhân mắc căn bệnh này.

Bộ Y tế Nga đã xác định ba loại thuốc dành cho người trưởng thành để chống lại SARS-CoV-2 vào cuối tháng 1 năm 2020, theo đó, ribavirin, lopinavir/ritonavir và interferon beta-1b có thể được sử dụng để chống lại coronavirus. Vì các loại thuốc này thường được sử dụng để điều trị viêm gan C, HIV và bệnh đa xơ cứng tương ứng. Bộ Y tế Nga đã đưa ra các mô tả và hướng dẫn về cách thức điều trị hoạt động và với số lượng khuyến nghị này nên được quy định cho các bác sĩ tại các bệnh viện trên khắp nước Nga. Vào tháng 2, có thông tin rằng Trung Quốc đã bắt đầu thử nghiệm triazavirin, một loại thuốc chống vi-rút của Nga, với hy vọng rằng nó có thể hữu ích trong việc kiểm soát coronavirus mới. Triazavirin được phát triển tại Đại học Liên bang Ural ở Yekaterinburg, ban đầu để chống lại 'Cúm gia cầm' (H5N1). Do sự giống nhau giữa hai bệnh nhiễm trùng, các nhà nghiên cứu cảm thấy nó đáng để thử nghiệm theo các báo cáo. Thuốc Triazavirin năm 2014, được tuyên bố là có hiệu quả chống lại sốt thung lũng Rift và virus Tây sông Nin, cũng như các bệnh nhiễm virus khác.

Dịch tễ học

Tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh nói chung do nhiễm SARS-CoV-2 vẫn chưa được xác định, cả hai vì tỷ lệ tử vong trong trường hợp này có thể thay đổi theo dòng thời gian trong đợt bùng phát hiện tại và do tỷ lệ các ca nhiễm virus tiến triển thành bệnh có thể chẩn đoán vẫn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, từ các nghiên cứu sơ bộ về bệnh hô hấp cấp 2019-nCoV đã cho thấy tỷ lệ tử vong là từ 2% đến 3%, và vào tháng 1 năm 2020, WHO cho rằng tỷ lệ tử vong là khoảng 3%.

Một nghiên cứu chưa được xem xét của Đại học Hoàng gia Luân Đôn trong số 55 trường hợp tử vong, trong đó lưu ý rằng những ước tính sớm về tỷ lệ tử vong có thể quá cao do có các ca nhiễm virus không triệu chứng bị bỏ sót. Họ ước tính tỷ lệ tử vong trung bình của nhiễm virus (tỷ lệ tử vong ở những người nhiễm bệnh) dao động từ 0,8% khi bao gồm cả người mang mầm bệnh không triệu chứng, đến 18% khi chỉ bao gồm các trường hợp có triệu chứng từ tỉnh Hồ Bắc.

Tính đến ngày 2 tháng 3 năm 2020, dịch bệnh đã lây lan sang 71 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 89.835 trường hợp được xác nhận trên toàn thế giới, 3.061 trường hợp tử vong và 45.604 hồi phục.

Tiên lượng

Dữ liệu ban đầu chỉ ra rằng trong số 41 trường hợp được xác nhận đầu tiên nhập viện tại Vũ Hán, có 13 (32%) cá nhân cần được chăm sóc đặc biệt và 6 (15%) đã chết. Trong số những người đã chết, nhiều người có sức khỏe không ổn định trước đó, biểu hiện các tình trạng như tăng huyết áp, tiểu đường hoặc bệnh tim mạch làm suy yếu hệ thống miễn dịch của họ.

Trong các trường hợp đầu tiên của bệnh hô hấp cấp SARS-CoV-2 dẫn đến tử vong, thời gian trung bình để bệnh được phát hiện là 14 ngày, với tổng thời gian từ 6 đến 41 ngày.

Theo WHO, dựa trên phân tích đối với 44.000 trường hợp mắc COVID-19 tại tỉnh Hồ Bắc, khoảng 80% người mắc bệnh nhẹ, 14% mắc bệnh nặng hơn như viêm phổi, 5% nguy kịch và 2% trường hợp tử vong.

Trong số những người đã chết, nhiều người có các chứng trạng từ trước, bao gồm tăng huyết áp, tiểu đường hoặc bệnh tim mạch, và thời gian từ khi xuất hiện các triệu chứng ban đầu đến lúc tử vong trung bình là 14 ngày (khoảng từ 6 đến 41 ngày). Nam giới có tỷ lệ tử vong là 2,8%, trong khi nữ giới có tỷ lệ tử vong là 1,7%. Ở những người dưới 50 tuổi có nguy cơ tử vong thấp hơn 0,5%, trong khi những người trên 70 tuổi thì lại hơn 8%. Không có trường hợp tử vong nào xảy ra dưới 10 tuổi tính đến ngày 26 tháng 2 năm 2020.

Nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Vắcxin

Hiện chưa có vắc-xin phòng chống bệnh, nhưng việc nghiên cứu phát triển vắc-xin đã và đang được một số cơ quan đảm nhiệm. Những nghiên cứu trước đó về SARS-CoV được sử dụng tối ưu vì SARS-CoV-2 và SARS-CoV đều sử dụng thụ thể ACE2 để xâm nhập vào tế bào của con người. Có 3 chiến lược vắc-xin đang được nghiên cứu. Đầu tiên, các nhà nghiên cứu đang hướng đến tạo nên một vắc-xin toàn phần virus. Việc sử dụng virus đã bị làm yếu hoặc giết chết sẽ tạo nên phản ứng miễn dịch nhắc lại khi người đó bị nhiễm COVID-19. Chiến lược thứ hai, vắc-xin một phần virus, làm hệ miễn dịch mẫn cảm với một số thành phần của virus. Trong trường hợp của SARS-CoV-2, các nghiên cứu tập trung vào protein gai S giúp virus xâm nhập vào tế bào thông qua thụ thể ACE2. Chiến lược thứ ba là vắc-xin axit nucleic (vắc-xin DNA hoặc RNA, một kỹ thuật chế tạo vắc-xin mới). Các vắc-xin thử nghiệm từ một trong những chiến lược trên phải được kiểm nghiệm mức độ an toàn và hiệu quả.

Vào ngày 16 tháng 3 năm 2020, thử nghiệm lâm sàng đầu tiên của vắc-xin bắt đầu với bốn tình nguyện viên tại Seattle. Vắc-xin chứa những đoạn gen vô hại được sao chép từ những con virus gây bệnh.

Thuốc chống virus

Hiện tại chưa có loại thuốc nào được phê duyệt để điều trị nhiễm virus corona ở người. Nghiên cứu về các phương pháp điều trị tiềm năng cho căn bệnh này đã được bắt đầu vào tháng 1 năm 2020 và một số loại thuốc chống virus đã được thử nghiệm lâm sàng. Mặc dù các loại thuốc hoàn toàn mới có thể mất đến năm 2021 để phát triển, một số loại thuốc có sẵn đang được thử nghiệm đã được phê duyệt cho các phác đồ điều trị chống virus khác hoặc đã được thử nghiệm nâng cao.

Các loại thuốc chống virus đang được thử nghiệm bao gồm chloroquine; darunavir; galidesivir; interferon beta; hỗn hợp lopinavir/ritonavir; chất ức chế RNA polymerase remdesivir; và triazavirin. Umifenovir (Arbidol) và darunavir đã được đề xuất bởi Ủy ban Y tế Quốc gia. Kết quả sơ bộ từ một thử nghiệm ở nhiều trung tâm, được công bố trong một cuộc họp báo và được mô tả bởi Jianjun, Zhenxue và Xu, cho rằng chloroquine có hiệu quả và an toàn trong điều trị viêm phổi liên quan đến COVID-19, "cải thiện phát hiện hình ảnh phổi, thúc đẩy chuyển biến thành âm tính với virus và rút ngắn quá trình điều trị bệnh".

Tâm lý

Ảnh hưởng về tâm lý có thể được gây nên bởi cảm giác bị mắc kẹt trong vụ dịch, bị hạn chế đi lại và bị cô lập. Vào cuối tháng 1 năm 2020, Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc đã công bố hướng dẫn cho toàn quốc về việc can thiệp khủng hoảng tâm lý cho SARS-CoV-2, chăm sóc sức khỏe tâm lý cho những người bị ảnh hưởng hoặc có liên hệ chặt chẽ với SARS-CoV-2, những người bị cô lập tại nhà, gia đình và bạn bè của những người bị ảnh hưởng, nhân viên y tế và công chúng.

Đặt tên

Quá trình đặt tên bệnh đã được gọi là "hỗn loạn".

Ngày 11 tháng 2 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới đã đặt tên chính thức cho bệnh này là COVID-19, còn loại virus gây ra bệnh được gọi chính thức là SARS-CoV-2. Người đứng đầu Tổ chức Y tế Thế giới Tedros Adhanom cho biết “CO” là viết tắt của "corona", "VI" viết tắt của "virus", "D" là viết tắt của "disease" (bệnh) và "19" là viết tắt của năm "2019", vì dịch bệnh lần đầu tiên được xác định vào cuối tháng 12 năm 2019. Tedros cho biết tên này được chọn để tránh ám chỉ đến một vị trí địa lý cụ thể (ví dụ: Trung Quốc), các loài động vật hoặc nhóm người, phù hợp với các khuyến nghị quốc tế về đặt tên nhằm ngăn chặn sự kỳ thị.

Theo nguồn Wikipedia ngày 8/4/2020

Viết bình luận